Luật sư Tranh tụng tại Tòa

19-12-2022

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐG, TỈNH KON TUM

BẢN ÁN 06 /2018/HS-ST NGÀY 29/08/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐG, tỉnh KonTum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2018/TLST – HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Đinh Trung Ng;( Tên gọi khác: Chó) sinh ngày 15 tháng 9 năm 2001 tại huyện ĐG tỉnh Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và nơi ởi hiện nay: Thôn 14A, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Cơ-Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đinh Thị Kim L; sinh năm: 1981; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Đinh Thị Kim L (Mẹ đẻ của bị cáo); sinh năm: 1981; Nơi cư trú : Thôn 14A, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tạ Văn Nghiệp – Luật sư, Văn phòng

Luật sư Sài Gòn An Nghiệp thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kon Tum.

- Bị hại: Ông Lữ Minh A – sinh năm 1961.( Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Hồ Thị Th; Sinh năm: 1973 (Vợ người bị hại); Nơi cư trú: Thôn 16/5, thị trấn Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Đoát Hạ Đ; Sinh năm: 1958; Nơi cư trú : Thôn 14A, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

+ A M - sinh năm 1995; trú tại: Thôn Peng Sal Peng, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum. 

+ Bà Nguyễn Thị Kim L; sinh năm: 1968; Nơi cư trú: Thôn 16/5, thị trấn ĐG, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

+ Y Th; Sinh ngày: 10/02/2002; Người đại diện hợp pháp của Y Th: Ông A B (Là bố đẻ); sinh năm: 1979; Cùng cư trú tại: Thôn Đ, xã ĐL, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

+ Cháu Lữ Hồ Ngọc H – sinh ngày 01/01/2012. Người đại diện hợp pháp của cháu Lữ Hồ Ngọc H: Bà Hồ Thị Th; Sinh năm: 1973 (Mẹ đẻ); Cùng cư trú tại: Thôn 16/5, thị trấn Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

- Tổ chức có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum; Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T - Chức vụ: Trưởng phòng; Địa chỉ: Thôn ĐX, thị trấn Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

- Người làm chứng:

+ A M1; sinh năm: 1999.

Trú tại: Thôn Peng Sal Peng, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

+ Đoát Hồng H – sinh năm 1998. Thôn 14A, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/10/2017, Đinh Trung Ng cùng với A M1, Đoát Hồng H, A M uống rượu tại nhà Đoát Hồng H ở thôn 14A, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum. Sau đó, A M1 ,Ng và A M về nhà A M ở thôn Peng Sal Peng, xã Đ, huyện ĐG, tỉnh KonTum uống rượu tiếp. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, trong lúc đang uống rượu thì A M1 nhắn tin rủ Y Ng và Y Th đi chơi, do không có xe nên bị cáo Ng hỏi A M để mượn xe mô tô biển số: 82N1 - 058.54 ,(xe mô tô này A M hỏi mượn của Đoát Hồng H) đi đón Y Th, Y Ng ở nhà trọ Tr (gần trường dân tộc nội trú huyện ĐG). Thấy Ng đã say nên A

M không đồng ý cho Ng mượn xe. Ng đi ra ngoài sân và nói A M1 vào hỏi A M cho Ng mượn xe. A M1 đi vào trong nhà nói A M: “Cho mượn xe đi chơi tý” thì A M nói: “Nếu A M1 đi cùng thì được chứ Ng say rồi.” rồi A M tìm chìa khóa xe máy để đưa cho A M1 nhưng không thấy, nên nói với A M1: “Chìa khóa chắc ở xe”. A M1 quay ra ngoài sân thì thấy Ng đã ngồi sẵn trên xe và tự nổ máy đi luôn. Sau đó A M1 điều khiển xe của mình đến nơi ở của Y Th, Y Ng trước, một lúc sau thì N tới. Ng rủ mọi người đi uống trà sữa gần cầu treo thì mọi người đồng ý, A M1 chở Y Ng đi trước, Ng chở Y Th đi sau khoảng 05 phút. Khi đến quán trà sữa thì không thấy A M1, Y Ng đâu nên Ng điều khiển xe chở theo Y Th đi tìm A M1 và Y Ng. Khoảng 19 giờ 30 phút, Ng điều khiển xe mô tô tới ngã tư đường Hùng Vương (đường Hồ Chí Minh) – Trần Phú( theo hướng NH – ĐG), do điều khiển xe với tốc độ nhanh , vượt qua ngã tư khi đèn tín hiệu giao thông đang báo đèn đỏ khoảng 30m thì xe mô tô do Ng điều khiển đã tông mạnh vào giữa xe mô tô biển kiểm soát 82B1 – 0765 do ông Lữ Minh A điều khiển chở theo con gái là Lữ Hồ Ngọc H đi ngược chiều đang bật tín hiệu đèn chuyển hướng rẽ trái, đã đi sang làn đường bên phải theo hướng đi của xe Ng điều khiển làm ông Lữ Minh A văng ra xa 8,90 m, Lữ Hồ Ngọc H văng xa 12,90m. Hậu quả, ông Lữ Minh A chết trên đường đi cấp cứu, Đinh Trung Ng, Y Th, Lữ Hồ Ngọc H bị thương và hai xe mô tô bị hư hỏng.

Hiện trường vụ án thể hiện: Hướng khám nghiệm là hướng huyện N H đi huyện ĐG, theo hướng đi của xe mô tô BKS: 82N1– 058.54. Tại đoạn đường Km 1438 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn 16/5, thị trấn ĐG, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum: Đoạn đường nhựa bằng phẳng, ở giữa có vạch sơn vàng đứt quãng để phân chia làn đường; hai bên có vạch sơn trắng liền để phân chia làn đường dành cho xe cơ giới. Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 12m10, phần đường bên trái dành cho xe thô sơ rộng 2m33, phần đường bên phải dành cho xe thô sơ rộng 2m25, phần đường dành cho xe cơ giới rộng 7m52. Hai xe mô tô biển số: 82B1 - 0765 và 82N1– 058.54 đều nằm trên làn đường bên phải hướng khám nghiệm. Điểm đụng nằm trên làn đường bên phải, cách tim đường 1,15m, cách lề đường phải 4m90 theo hướng khám nghiệm, cách xe mô tô biển số: 82B1 – 0765 là 5m55, cách xe mô tô biển số: 82N1– 058.54 là 18m64, cách cột đèn tín hiệu giao thông 30m.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 106/TT-TTPY, ngày 21/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Nguyên nhân chết của ông Lữ Minh A là: Đa chấn thương.

- Cơ quan điều tra yêu cầu giám định thương tích cho Lữ Hồ Ngọc H và Y Th.Nhưng bà Hồ Thị Th (Người đại diện hợp pháp của cháu Lữ Hồ Ngọc H) và ông A B (Người đại diện hợp pháp của Y Th) đã có đơn xin từ chối giám định thương tích cho Lữ Hồ Ngọc H và Y Th.

Tại Kết quả kiểm tra nồng độ cồn Biên bản: 00073 ngày 20/10/2017 của công an huyện ĐG nồng độ cồn của Đinh Trung Ng là 0.535 mg/Lít khí thở.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 21/10/2017 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum thì nồng độ cồn trong máu của ông Lữ Minh A là 101 ml/dl.

Tại Kết luận giám định tài sản số: 06/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Thiệt hại xe mô tô BKS 82N1- 058.54 là 4.240.000 đồng (Bốn triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng); xe mô tô BKS 82B1-0765 thiệt hại là: 315.000 đồng (Ba trăm mười lăm ngàn đồng).

Cơ quan Điều tra thu giữ các vật chứng và chưa xử lý gồm:

- 01 (một) xe mô tô biển số: 82N1- 058.54, số máy: 5C6K142605, số khung: C6K0DY14288, nhãn hiệu Yamaha SIRIUS, màu sơn: Trắng-Đen.

- 01 (một) xe mô tô biển số: 82B1-0765, số máy: 5SD1-32038, số khung: 5SD1-32038, nhãn hiệu JUPITER, màu sơn: Xanh.

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 000379, mang tên A B (Sinh năm 1990, HKTT: ĐR, MH, ĐG), biển số: 82N1- 058.54, do Công an huyện ĐG cấp ngày 22/6/2015.

Về bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo đã bồi thường, hỗ trợ tiền mai táng cho gia đình bị hại 5.000.000 đồng, và 1.000.000đ thăm hỏi sức khỏe cháu Lữ Hồ Ngọc H, tổng số tiền: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Bản cáo trạng 07/CT-VKS ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐG truy tố bị cáo Đinh Trung Ng về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐG giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đinh Trung Ng về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” . Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 38; các điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 54; khoản 1 điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Trung Ng khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng, bị cáo đã có lỗi là uống rượu say, điều khiển xe moto không có giấy phép lái xe theo quy định, không đội mũ bảo hiểm, không chấp tín hiệu đèn giao thông, vượt đèn đỏ, điều khiển xe với tốc độ nhanh không quan sát phía trước khi thấy phía trước có một người điều khiển xe nhưng không làm chủ được tốc độ nên đã tông vào xe của ông Lữ Minh A đang có tín hiệu rẽ qua bên trái đường đi, hậu quả làm ông Lữ Minh A chết. Bị cáo nhận lỗi và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Lời khai của Y Th tại hồ sơ: Khi đi đến ngã tư lúc đó đèn báo màu đỏ, nhưng Đinh Trung Ng không dừng lại mà đi rất nhanh vượt qua đèn đỏ, không nhìn phía trước mà quay qua quay lại, khi bị tai nạn thì Y Th bị ngất xỉu nên không biết gì.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đồng ý với quyết định truy tố, bản luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát về hành vi phạm tội, tội danh, các điều khoản của bộ luật hình sự áp dụng đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, vì bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có cha từ khi mới sinh ra nên phần nào thiếu sự giáo dục một cách toàn diện, nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo với mức thấp nhất.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại và cháu Lữ Hồ Ngọc H là bà Hồ Thị Th trong quá trình điều tra và trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, có ý kiến về hình phạt đối với bị cáo đề nghị giải quyết theo pháp luật, về vấn đề bồi thường thì công nhận đã nhận của mẹ bị cáo 6.000.000 đồng, và không yêu cầu bị cáo Nguyên phải bồi thường thêm.

Người đại diện theo pháp luật của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Đ G, tỉnh KonTum có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến: Chiếc xe mô tô BKS 82B1- 0765 là tài sản của nhà nước cấp cho Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG sử dụng. Chiếc xe đó đã bị hư hỏng, hiện đang bị cơ quan chức năng thu giữ. Tôi đề nghị được nhận lại chiếc xe trên và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại sửa chữa xe mô tô là 315.000 đồng (Ba trăm mười lăm ngàn đồng) theo kết  Luận của Hội đồng định giá.

Ông Đoát Hạ D có ý kiến: Xe mô tô BKS 82N1- 058.54 ông mua tại cửa hàng xe máy của bà Nguyễn Thị Kim L ở thôn 16/5, thị trấn ĐG thuộc sở hữu của tôi, do chưa trả hết tiền nên giấy tờ của chiếc xe bà L đang giữ. Trước ngày xảy ra tai nạn 20/10/2017 thì con tôi là Đoát Hồng H lấy đi rồi cho A M mượn đi thế nào tôi không biết, việc A M để cho Ng lấy đi rồi gây tai nạn tôi không biết.

Tôi đề nghị được nhận lại chiếc xe. Còn việc sửa chữa, bồi thường thì tôi với A M tự thỏa thuận giải quyết. Tôi không liên quan với Đinh Trung Ng. A M trình bày: Tôi có mượn xe mô tô BKS 82N1- 058.54 từ Đoát Hồng H để đi về nhà, khi nhậu xong thì Ng có mượn xe đi nhưng tôi thấy Ng say nên không đồng ý, sau đó A M1 là anh trai tôi nói “cho mượn đi chơi tí” tôi nói có A M1 đi thì được, sau đó tôi tìm chìa khóa nhưng không thấy, tôi nói A M1 “ra xem có ở ngoài xe không?” chứ không nói là cho Ng mượn xe. Tôi mượn xe BKS 82N1- 058.54 là của ông Đoát Hạ D, bố của Đoát Hồng H. Tôi đồng ý tự thỏa thuận bồi thường chiếc xe này với ông D.

Lời khai của Đoát Hồng H tại phiên tòa: Chiếc xe BKS 82N1- 058.54 là của bố tôi Đoát Hạ D, khi uống rượu ở nhà tôi xong thì A M có hỏi mượn để đi về nhà A M, chiếc xe lúc A M lấy đi là để ngoài sân, chìa khóa cắm ở xe. Sau đó tai nạn xảy ra thế nào tôi không biết.

Lời khai của A M1 tại phiên tòa: Tôi công nhận có hỏi A M cho để mượn chiếc xe BKS 82N1- 058.54, tuy nhiên tôi chưa nói gì với Ng là có mượn được hay không thì Ng đã tự nổ máy và đi ra ngoài trước, sau đó Ng gay tai nạn thế nào tôi không biết.

Bà Nguyễn Thị kim L có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến: Chiếc xe mô tô BKS 82N1- 058.54, giấy đăng ký xe mang tên A B, do Công an huyện Đ G cấp ngày 22/6/2015, cửa hàng của bà bán cho ông Đoát Hạ D, do ông D còn nợ lại 3.000.000 đồng, nên hai bên làm giấy thỏa thuận khi nào ông D trả đủ tiền bà L sẽ giao lại giấy tờ xe cho ông D. Bà yêu cầu được nhận lại giấy tờ chiếc xe. 

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐG, tỉnh Kon Tum, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐG, tỉnh Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện xe môtô, kết luận luận giám định pháp y, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 20/10/2017, tại km 1438 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn 16/5, thị trấn ĐG, huyện ĐG, tỉnh Kon Tum bị cáo Đinh Trung Ng điều khiển xe mô tô BKS 82N1- 058.54 chở theo Y Th đi hướng N H - ĐG. Khi đi qua ngã tư đường Hùng Vương  (Đường Hồ Chí Minh) - Trần phú, bị cáo không chấp hành tín hiệu đèn đỏ mà điều khiển xe với tốc độ nhanh vượt qua đèn đỏ, không quan sát an toàn phía trước, khi phát hiện có người điều khiển xe máy qua đường đã không làm chủ tốc độ và tông mạnh vào giữa xe mô tô BKS 82B1- 0765 do ông Lữ Minh A điều khiển chở theo cháu Lữ Hồ Ngọc H đi ngược chiều, đang bật đèn tín hiệu xin đường chuyển hướng rẽ trái. Điểm đụng nằm trên làn đường bên phải, cách tim đường 1,15m, cách lề đường phải 4m90 theo hướng khám nghiệm, thể hiện xe mô tô ông Lữ Minh A đã qua làn đường bên phải theo hướng đi của xe do bị cáo điều khiển. Đoạn đường tại vị trí điểm đụng ở giữa có vạch sơn vàng đứt quãng để phân chia làn đường, không có biển cấm chuyển hướng, không bị che khuất tầm nhìn, bản ảnh chụp hiện trường khi xảy ra tai nạn đèn tín hiệu bên trái phía sau xe mô tô BKS 82B1- 0765 đang sáng, do đó ông Lữ Minh A điều khiển xe rẽ trái đúng quy tắc quy định tại Điều 15 của Luật giao thông đường bộ. Như vậy, nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông là do bị cáo đã không chấp hành quy tắc về an toàn giao thông được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ đó là: Không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ. Khi va chạm làm ông Lữ Minh A văng ra xa cách điểm đụng 8,90 m, cháu Lữ Hồ Ngọc H văng xa 12,90m, chứng tỏ bị cáo điều khiển xe với tốc độ rất nhanh mới tạo ra lực tác động mạnh như vậy. Hậu quả làm ông Lữ Minh A chết trên đường đi cấp cứu; Y Th, cháu Lữ Hồ Ngọc H bị thương và hai xe mô tô bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại là: 4.555.000đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi năm ngàn đồng). Tại thời điểm gây tai nạn bị cáo Đinh Trung Ng 16 tuổi 01 tháng 05 ngày tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, điều khiển xe mô tô BKS 82N1- 058.54 có dung tích xi lanh:110cm3 nhưng không có giấy phép lái xe theo quy định, nồng độ cồn trong hơi thở là 0,535mg/L khí thở vượt mức cho phép, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông, không đội mũ bảo hiểm, chạy tốc độ nhanh không quan sát phía trước là vi phạm vào khoản 8, 9 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 11; khoản 2 Điều 30, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Tổng hợp hành vi và hậu quả thiệt hại do bị cáo gây ra, có đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” có khung hình phạt quy định tại điểm a, b Khoản 2, Điều 202 của Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, thuộc trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, như Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 05/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐG truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, hành vi vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn làm một người chết, hai người bị thương (nhưng từ chối giám định thương tích), thiệt hại về tài sản với tổng giá trị là: 4.555.000 đồng.

Tai nạn giao thông đường bộ là hiểm họa của toàn xã hội, hàng năm trên phạm vi cả nước tai nạn giao thông đã tước đi sinh mạng của nhiều người, để lại hậu quả nặng nề về vật chất, tinh thần cho gia đình, cá nhân và xã hội. Đối với cả nước nói chung và huyện ĐG nói riêng, tình trạng thanh thiếu niên sử dụng bia rượu điều khiển mô tô xe máy tham gia giao thông gây tai nạn diễn ra ngày càng nhiều, mặc dù công tác tuyên truyền về chấp hành Luật giao thông đường bộ, an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, tuyên truyền cảnh báo sự nguy hiểm về sử dụng bia, rượu điều khiển phương tiện tham gia giao thông được diễn ra thường xuyên hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng ở tất cả các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương và lan truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Tuy tuổi đời còn nhỏ nhưng bị cáo đã lạm dụng rượu bia, dẫn đến không làm chủ được hành vi là nguyên nhân gây ra vụ tại nạn giao thông. Để đấu tranh, phòng chống, tuyên truyền, giáo dục ý thức về tham gia giao thông an toàn đúng pháp luật trên địa bàn, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

 [4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy:

Một trong các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại BLHS là việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người công dân có ích cho xã hội. Bị cáo tuổi đời còn nhỏ, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại tổng số tiền 6.000.000 đồng, khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đại diện hợp pháp cho người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, có một phần lỗi của người bị hại là điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định của pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các điều quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gồm Điều 91. Điều 101 Bộ luật hình sự 2015, xét thấy bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015, để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Các điều luật của Bộ luật hình sự 2015 quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có lợi hơn quy định của bộ luật hình sự 1999, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo không thay đổi so với BLHS 1999. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, cần áp dụng các điều luật nêu trên của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.

 [4] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng của vụ án:

-Xe mô tô BKS 82N1- 058.54 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Đoát Hạ D. Vì vậy, cần trả lại chiếc xe mô tô BKS 82N1-058.54 cho ông Đoát Hạ D.

- Xe mô tô BKS 82B1- 0765 thuộc sở hữu hợp pháp của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum. Vì vậy, cần trả lại cho Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum,.

- Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 000379, mang tên A B , biển số: 82N1 – 058.54, do Công an huyện ĐG cấp ngày 22/6/2015: Ông Đoát Hạ D khi mua xe còn nợ tiền bà Nguyễn Thị Kim L, nên hai bên có lập giấy thỏa thuận khi nào ông D trả đủ số tiền còn nợ thì bà L giao lại giấy tờ này cho ông D. Đây là giao dịch dân sự giữa ông D và bà L không liên quan đến vụ án, vì vậy, cần trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L.

 [5] Về trách nhiệm dân sự:

- Gia đình bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình người bị hại số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nhằm khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Người đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì nên HĐXX không xem xét.

-Người đại diện hợp pháp của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum có đơn xét xử vắng mặt và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền là: 315.000 đồng (Ba trăm mười lăm ngàn đồng) thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 82B1- 0765.Yêu cầu này đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận .

-A Mỹ chưa được sự đồng ý của ông Đoát Hạ D là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô BKS 82N1- 058.54, nhưng đã lấy đi về nhà mình rồi để cho bị cáo tự lấy đi gây tai nạn dẫn đến chiếc xe bị hỏng. Ông Đoát Hạ D và A M tự thỏa thuận về bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đề cập. Sau này giữa ông Đoát Hạ D và A M có tranh chấp gì về bồi thường thì được khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

-Tại phiên tòa, A M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thường thiệt hại gì để sửa chữa hư hỏng của chiếc xe mô tô BKS 82N1- 058.54 nên Hội đồng xét xử không đề cập.

- Ông A B là bố đẻ của Y Th không yêu cầu gì đối với bị cáo, nên HĐXX không đề cập.

- Đối với A M, A M1 chưa trực tiếp đồng ý và giao cho bị cáo xe mô tô BKS 82N1- 058.54, mà bị cáo tự lấy đi, vì vậy Cơ quan điều tra không truy cứu A M, A M1 về tội : Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điều 264 Bộ luật hình sự 2015 là đúng pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường trong vụ án hình sự là 300.000 đồng. Tổng số tiền án phí phải nộp là: 500.000 đồng.

Bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội, sinh sống cùng mẹ đẻ, không có tài sản riêng, vì vậy theo quy định tại Điều 586 của Bộ luật dân sự bà Đinh Thị Kim Linh là mẹ của bị cáo phải bồi thường thay cho bị cáo các khoản tiền trên và nộp án phí thay cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Trung Ng ( tên gọi khác: Chó) phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ”.

- Áp dụng: Các điểm a, b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009); Khoản 3 Điều 7; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 54; khoản 1, khoản 4 và khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015; Xử phạt: Bị cáo Đinh Trung Ng 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

*Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự:

- Buộc bị cáo Đinh Trung Ng phải bồi thường cho Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh KonTum số tiền: 315.000 đồng (Ba trăm mười lăm ngàn đồng); Bà Đinh Thị Kim L( mẹ đẻ của bị cáo) có trách nhiệm bồi thường thay khoản tiền nêu trên cho bị cáo.

Áp dụng Điều 357 của Bộ luật dân sự, khi bản án có hiệu lực pháp luật mà bị cáo và mẹ bị cáo không bồi thường số đủ số tiền nêu trên và Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum có đơn yêu cầu thi hành án, thì bị cáo và mẹ bị cáo còn phải chịu tiền lãi suất phát sinh do chậm trả, mức lãi suất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

*Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại chiếc xe mô tô BKS 82N1- 058.54 cho ông Đoát Hạ D;

- Trả lại chiếc xe mô tô BKS 82B1- 0765 cho Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện ĐG, tỉnh Kon Tum;

- Trả lại 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 000379, mang tên A B (Sinh năm 1990, HKTT: Đ R, M H, ĐG), biển số xe: 82N1- 058.54, do Công an huyện ĐG cấp ngày 22/6/2015 cho bà Nguyễn Thị Kim L.

Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 06/7/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện ĐG và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐG.

*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1,3 Điều 21; các điểm a,c,f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Đinh Trung Ng phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Tổng cộng bị cáo phải nộp: 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng). Bà Đinh Thị Kim L có trách nhiệm nộp thay cho bị cáo toàn bộ tiền án phí.

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15( Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án( 29/8/2018). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Người đăng: Nguyễn Văn Đông

HỎI ĐÁP KHÁC